Chuyên cung cấp Đèn sưởi nhà tam giá ưu đãi tốt nhất thị trường.

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

Thêm bằng chứng mới khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

[Me Lo] - Trong Đại Việt sử ký toàn thư kể lại lời của vua Lê Thánh Tông nói với bá quan văn võ trong triều đình rằng: “Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc thì tội phải tru di”.
Khi xảy ra tranh chấp trên Biển Đông, Việt Nam đã có nhiều bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đến sáng 6/1, Bộ Thông tin và Truyền Thông (TT&TT) phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử”.


                                 Triển lãm thu hút sự quan tâm của nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Một điểm cần chú ý là triển lãm lần này đã bổ sung thêm một số tư liệu, bản đồ gốc về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam được vẽ bởi các nhà hàng hải, thương nhân người Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Pháp.
Trên báo Dân Trí có đăng thông tin: “Các nhà nước Việt Nam từ thời kỳ phong kiến cho đến thời kỳ hiện nay đã khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như những vùng biển đảo khác trong Biển Đông. Những tư liệu, bản đồ tại triển lãm lần này là những bằng chứng vững chắc về chủ quyền của Việt Nam đối 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời bác bỏ những luận điệu xuyên tạc lịch sử, những yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Những bằng chứng này bao gồm: Các văn bản Hán Nôm, văn bản Việt ngữ và Pháp ngữ do triều đình phong kiến Việt Nam và chính quyền Pháp ở Đông Dương, thay mặt nhà nước Việt Nam đương thời, ban hành từ TK XVII đến đầu TK XX, khẳng định Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền liên tục đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó đáng chú ý là 20 bản sao Châu bản triều Nguyễn, niên đại từ triều vua Gia Long (1802-1819) đến triều Bảo Đại (1925-1945)”.
Triển lãm lần này còn bao gồm cả một số tư liệu, ấn phẩm do các nước phương Tây biên soạn và xuất bản từ thế kỷ XVIII đến TK XIX liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đáng chú ý hơn là 4 cuốn atlas do nhà Thanh và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc xuất bản gồm: Trung Quốc địa đồ (xuất bản 1908),Trung Quốc toàn đồ (xuất bản 1917), Trung Hoa bưu chính dư đồ (xuất bản 1919) và Trung Hoa dư chính bưu đồ (xuất bản 1933). Các atlas này là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ bưu chính do nhà Thanh vạch ra vào năm 1906 và được Chính phủ Trung Hoa Dân quốc kế tục vào các năm sau đó. Cương giới cực Nam của Trung Quốc trong các atlas này luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, không hề nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Ngoài ra, triễn lãm trưng bày cả những công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam và quốc tế xuất bản trong nước và nước ngoài từ trước tới nay nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Bằng chứng về những vỏ ốc biển và cát từ vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa do các ngư dân Việt Nam đi đánh bắt hải sản ở các ngư trường này mang về. Đây được xem là những “cột mốc chủ quyền sống” trên những vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.


Bằng chứng vững chắc bác bỏ những luận điệu xuyên tạc lịch sử, những yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Cục Thông tin Đối ngoại, Bộ TT&TT, Trưởng BTC triển lãm nói: “Việc thu thập tư liệu một cách tập trung, có hệ thống và công bố trước người dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế những bằng chứng lịch sử này là hết sức quan trọng. Và chúng ta có rất nhiều, có đủ các bằng chứng sự thật lịch sử để bác bỏ yêu sách phi lý của Trung Quốc”(Theo Dân Trí).
Trong khi đó, TS Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng nói: “Trong các văn bản, hình ảnh được trưng bày ở đây toát lên một tinh thần Việt Nam từ thời ngày xưa là chủ trương giữ gìn, bảo vệ biên giới một cách hòa bình. Thậm chí câu trích dẫn của vua Lê Thánh Tông cũng nói rằng chúng ta phải tổ chức đàm phán, biện giải, cử người sang phương Bắc để giải thích cho Trung Quốc rõ đó là lãnh thổ của Việt Nam. Và điều đó xuyên suốt đến các văn bản dưới thời nhà Nguyễn, đến phát biểu của Đại tướng Lê Đức Anh tại Trường Sa, cho đến chủ trương của Đảng và Nhà nước ta bây giờ là dùng con đường hòa bình để giải quyết vấn đề này” (Theo Dân Trí).
Thêm một số hình ảnh tại triển lãm:
Những tư liệu, bản đồ tại triển lãm lần này là những bằng chứng vững chắc về chủ quyền của Việt Nam đối 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

68 năm, Bác Hồ với cuộc Tổng Tuyển cử 6-1-1946 và bản Hiến Pháp đầu tiên


Hình ảnh Bác Hồ bỏ phiếu ngày 6/1/1946

 [Mực Tàu]- Lịch sử hơn nửa thế kỷ qua đã chứng tỏ việc Bác Hồ quyết định tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Khóa I trong tình thế đất nước Ngàn cân treo sợi tóc, rồi sau đó lại nhanh chóng cho ra đời bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là những quyết định cực kỳ sáng suốt và dũng cảm. Những quyết định đó không thể nào sớm hơn được, nhưng để chậm hơn thì tình thế sẽ vô cùng khó khăn phức tạp.

Trong một hồi ký của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: Hồ Chí Minh là con người của những quyết định lịch sử.

Ngày 3-9-1945, một ngày sau Ngày Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Bác Hồ đã nói với các vị Bộ trưởng, Thứ trưởng:

Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu…

Ngày 8-9-1945, một tuần sau Ngày Tuyên bố độc lập, Bác đã ký Sắc lệnh số 14 Quyết định tổ chức Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước.

Trong lịch sử hiếm có một quốc gia nào vừa mới giành được độc lập với bao khó khăn đang chồng chất lại dám tổ chức một cuộc Tổng tuyển cử thực sự dân chủ như nước Việt Nam ta hồi ấy. Thấy một số người có vẻ lo lắng về trình độ nhân dân, sợ Tổng tuyển cử không đạt kết quả, Bác khẳng định: “Nhân dân ta sẽ biết sử dụng lá phiếu của mình, Tổng tuyển cử nhất định sẽ thành công”.

Ngày 31-12-1945, Bác viết bài đăng trên Báo Cứu quốc số 130: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài để gánh vác công việc của Nhà nước…
Trong Tổng tuyển cử, hễ ai là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử, không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó…
Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội cử ra Chính phủ, Chính phủ thực sự là Chính phủ của toàn dân…”

Ngày 10-12-1945, danh sách các ứng cử viên đã được niêm yết rộng rãi. Tại Hà Nội có 74 ứng cử viên để bầu 6 đại biểu, Bác là ứng cử viên ở Hà Nội.

Chiều 5-1-1946, Bác đến Khu học xá (nay là Đại học Bách khoa), cùng với các ứng cử viên ra mắt gặp gỡ cử tri. Trước đông đảo quần chúng Bác nói với các ứng cử viên: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ đến lợi chung…” Rồi hướng đến cử tri Bác căn dặn: “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện quyền dân chủ của mình”.

Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành và thành công trên phạm vi cả nước. Tỷ lệ cử tri đi bầu ở các địa phương đạt từ 65% đến 95% và đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội (Bắc Bộ 152, Trung Bộ 108, Nam Bộ 73).

Ngày 6-1-1946, đã trở thành ngày hội của cả nước, ngày hội non sông. Tưng bừng nhất vẫn là ở Thủ đô Hà Nội. Toàn thành phố có trên 187.000 cử tri thì 172.765 cử tri đã đi bầu. Bác Hồ được trúng cử với số phiếu cao nhất 97% .

Không phá hoại được Tổng tuyển cử, bọn phản động lại quyết tâm ngăn không cho Quốc hội họp được, hoặc nếu họp thì cũng không đạt được kết quả. Chúng trắng trợn đòi giành 70 ghế trong Quốc hội. Vì lợi ích chung của toàn dân tộc, Bác Hồ đã thuyết phục được các đại biểu chấp thuận yêu cầu đó.

Ngày 2-3-1946, Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa I long trọng khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Cũng như các Đại biểu khác, Bác Hồ mang thẻ Đại biểu số 305.

Trong bản báo cáo ngắn gọn trước Quốc hội, Bác nói: “Cuộc Quốc dân đại biểu đại hội này là lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt Nam ta. Nó là kết quả của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, mà cuộc Tổng tuyển cử lại là kết quả của sự hy sinh tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta… gồm tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh, không sợ nguy hiểm, tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc… Trong cuộc toàn quốc đại hội đại biểu này, các đảng phái đều có đại biểu, mà các đại biểu không đảng phái cũng nhiều, đồng thời phụ nữ và dân tộc thiểu số cũng đều có đại biểu. Vì thế cho nên các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể quốc dân Việt Nam. (HCM toàn tập trang 187 - 190).

Sau gần một ngày làm việc khẩn trương căng thẳng, kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa I đã thành công tốt đẹp. Bằng uy tín tuyệt đối của mình, Bác Hồ đã đứng ra thành lập Chính phủ chính thức và được toàn thể Quốc hội phê chuẩn.

Một thành tựu có tính chất lịch sử nữa mà Bác Hồ đã để lại cho chúng ta ngày nay là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà Bác là Trưởng ban Ban dự thảo. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã nhiều lần nói đến việc phải xây dựng một chính quyền của dân, do dân, vì dân. Nhưng thiết lập và xây dựng chính quyền đó không thể chỉ bằng kêu gọi và giáo dục mà phải bằng mô hình và cơ chế. Bởi vậy cần thiết phải sớm có một bản hiến pháp, mà muốn có hiến pháp phải có Quốc hội. Hiến pháp là biểu hiện tập trung nhất ý chí của một dân tộc, kỷ cương của đất nước.

Chỉ một tháng sau khi giành được chính quyền, ngày 20-9-1945, Bác Hồ đã lý Sắc lệnh 34, thành lập Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 7 người: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiển, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu.

Với trí tuệ uyên bác, với quan điểm lấy dân làm gốc, Bác đã đưa ra bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta với những điểm ngang tầm với nền chính trị tiên tiến trên thế giới, nhiều điểm còn giá trị mang tính thời sự cho đến ngày nay mà Hiến pháp năm 1992 đã kế thừa và phát triển (Võ Nguyên Giáp - Hồi ký).

Sáng ngày 28-10-1946, Quốc hội Khóa I, kỳ họp khóa hai khai mạc trọng thể tại Nhà hát lớn Hà Nội. Đến ngày 9-11-1946 với 240 phiếu thuận, hai phiếu chống, Quốc hội đã nhất trí chuẩn y Hiến pháp chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong buổi kết thúc kỳ họp Quốc hội, Bác đã nói về bản Hiến pháp mới: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới Nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó đã tuyên bố cho thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã được ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của mọi công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bằng các giai cấp…”

Chỉ trong vòng một năm trời, với vô vàn những khó khăn thử thách, với tài ba chèo lái của Bác Hồ: “Quốc hội Liên hiệp toàn dân đoàn kết được thành lập, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ liên hiệp chặt chẽ các đảng phái yêu nước kiên quyết chỉ huy cuộc kháng chiến, những kẻ thực dân ngoan cố nhất và cả những người ủng hộ chúng cũng phải chùn bước”. (Vũ Đình Hòe - Hồi ký).
Những quyết định thiên tài của Bác mãi mãi sáng ngời trong lịch sử Việt Nam ta.
                                                                               Theo vannghedanang.org.vn

6/1/1946 - 6/1/2014, tầm vóc một dân tộc!



Bác Hồ chụp ảnh cùng Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ công hòa
[Me Lo] - Vẫn còn nhớ nhà thơ Xuân Diệu đã viết: 
“Cái thủa ban đầu dân quốc ấy
Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên”.
Tháng 8 năm 1945, một mùa thu lịch sử của toàn dân tộc Việt Nam, khi nước ta giành được độc lập, chính thức đập tan ách xiềng xích nô lệ dưới thời thực dân pháp gần 100 năm và chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế trong gần 1000 năm. Ngày 2/9 năm ấy  Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Đây không phải là sự kiện đặc biệt của dân tộc ta mà nó có ý nghĩa to lớn cho toàn thế thới, nó khơi dậy làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn khắp 5 Châu. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, chính quyền  lâm thời của ta còn non trẻ và xét về lý thì chưa hợp pháp. Xuất phát từ yêu cầu cách mạng, thực tiễn đấu tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc cách mạng lớn ngay sau đó, một cuộc cách mạng dân chủ. Cuộc cách mạng tiến hành tổng tuyển cử bằng phổ thông đầu phiếu để lập ra nhà nước dân chủ nhân dân. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, ai từ 18 tuổi trở lên đều được thực hiện quyền công dân. 

Ngày 5.1.1946  không ai trong mỗi người dân Việt Nam lúc đó không nhớ câu nói của Bác “Ngày mai chúng ta hãy tỏ cho thế giới thấy rằng! chúng ta một lòng đoàn kết”.Với ngôn ngữ hào hùng, ngôn ngữ để toàn dân tộc Việt Nam được thấy rằng: họ không còn phải chịu dưới ách thống trị của thực dân nữa, lúc này họ làm chủ đất nước, họ có quyền quyết định đất nước.

Trong bối cảnh khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc”, các thế lực bên trong đòi chống phá chính quyền, các thế lực bên ngoài lăm le muốn xóa tan chính phủ, Bác và nhân dân Việt Nam đã quyết tâm làm một cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, thể hiện một tầm vóc dân tộc Việt Nam, được thế giới ghi nhận trên chính trường quốc tế. 

Ngày 6.1.1946 đã ghi dấu một ngày hạnh phúc của đồng bào ta, một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng quyền dân chủ của mình. Với trên 80% cử tri, có nơi là 95% cử tri thực hiện quyền công dân của mình đã cho thấy cách mạng một bước đi phi vũ trang- bước đi bằng từng lá phiếu của công dân, bằng chính ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Bước đi đó đã buộc các thế lực thù địch phải chấp nhận một sự thật về sự tồn tại mạnh mẽ, không  non yếu của một nhà nước, một dân tộc có 4000 năm lịch sử.

Từ Tổng tuyển cử năm 1946 đã khai sinh ra Quốc hội Việt Nam, khai sinh một Nhà nước kiểu mới. Đặc biệt hơn hơn, từ một dân tộc nô lệ, lầm than, từ đây hai chữ Việt Nam, Nhà nước hợp pháp và dân chủ nhân dân của Việt Nam có địa vị ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới qua Tổng tuyển cử - như Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. 

Cũng trong thời điểm đó Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ Lincoln đã chủ trương xây dựng nhà nước của dân do dân vì dân, thì ở bên kia nửa vòng trái đất xa xôi, một nhà nước non trẻ ra đời đã cho toàn thế giới thấy được tinh thần ấy. Tư duy ấy là nước cờ cao tay để ngăn bàn tay của Mỹ - Pháp và các thế lực xâm lăng khác. Nước cờ ấy đẹp như nước cờ khôn khéo, mềm dẻo chấp nhận làm đồng minh để đuổi 2 vạn quân Tưởng…

Thành quả này, đã cho thấy danh dự của dân tộc, tư cách của dân tộc. Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên  ấy đã mang tầm vóc của một cuộc cách mạng dân chủ, tầm vóc của một dân tộc nhỏ bé về diện tích nhưng to lớn về tinh thần đoàn kết.

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

“Món ăn thiên đường” dưới cái nhìn từ báo chí Mỹ!

[Mực Tàu] - Theo thông tin đăng trên trang Dan Trí, Phở của Việt Nam đã vinh dự được trang báo điện tử Huffington Post của Mỹ giới thiệu là một trong top 12 món ăn nước ngoài ngon nhất dưới cái tên mĩ miều “món ăn thiên đường”.
Mời độc giả cùng điểm mặt những món ăn ngon nhất song hành cùng vị trí của Phở Việt Nam:

“Món ăn thiên đường” là cái tên hay hơn dành cho nó.




 Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa độc đáo riêng. Và Phở cũng cũng chính là nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của dân tộc Việt Nam. Ngay cả những người dân đi xa quê hương thì họ luôn nhớ về món ăn này. “Món ăn thiên đường” – Quả thật là một cái tên rất hay. 


Câu chuyện của ông Phan Quang về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh

[Me Lo] - Ngày 1/1/2014 kỷ niệm ngày sinh tròn trăm năm của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các phương tiện thông tin đã có nhiều tin, bài về tài năng của Đại tướng trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị và quản lý...

 Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (ngoài cùng bên phải), ra đồng cấy với bà con xã viên Hợp tác xã Chiến Thắng (Quảng Bình) trong chuyến đi kiểm tra tình hình sản xuất 1962. Ảnh: Hữu Thoan.

Tôi chợt nhớ đến câu của Tố Hữu: “Ở đâu nghèo đói gọi xung phong/ Lon nước mo cơm lội khắp đồng và sáng trong như ngọc một con người”. Những vần thơ hiện lên hình nảh một vị Đại tướng của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam rất mộc mạc mà chân thành, giản dị và tận tụy vô cùng.

Những câu chuyện được kể lại luôn làm cho mọi người đọc được phải lặng mình cảm phục: “Lần ấy Phan Quang đi công tác với ông lên nông trường Mộc Châu. Tinh mơ phòng bên đã thấy ông ngồi vẻ tư lự, mắt quầng thâm. Đại tướng chia sẻ ngay với Phan Quang là đêm qua không ngủ được. Hóa ra, giường êm nệm ấm thuốc trà đầy đủ nhưng thủ phạm là... nước hoa! Ông giám đốc nhà khách bảnh bao trong bộ quần áo len vẻ sượng sùng khi nghe Đại tướng thân mật chuyện trò... Ông giám đốc bộc bạch nhà khách mới xây, mùi vôi vữa còn nồng, vẩy tý nước hoa cho khách dễ ngủ!” (Theo Dân Trí).

Chắc hẳn chúng ta sẽ khâm phục hơn khi biết về tuổi thơ của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh:Đại tướng kể, làm nông nghiệp, mình tiếp xúc với nông dân nhưng chưa từng gặp ai từng làm cái nghề như mình. Mỗi sáng mình vác cái cuốc đứng chống ở ngã ba đường cho người ta đến thuê đi... bốc mộ! Chả là cánh đồng An Cựu có một nơi được tiếng là đắc địa long mạch tốt. Người giàu có, chết nơi xa cũng cố đưa về chôn nên có nhiều mộ cải táng. Vậy chống cuốc đứng, thế nào cũng có người thuê” (Theo Dân Trí).

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn khiêm nhường: “Năm 1961, Phan Quang về HTX Đại Phong, Lệ Thủy (Quảng Bình) với đại tướng. Buổi họp chung toàn xã nhiều người nghe tên đại tướng nhưng chưa biết mặt. Có mấy bà đến muộn đứng phía sau cứ nhón chân nhìn lên đoàn chủ tịch hỏi Đại tướng mô? Ông mô là Đại tướng?
Đang đứng lẫn trong đám đông Đại tướng chỉ tay: Đó, cái ông trắng trẻo béo tốt ngồi thứ 2 hàng bên trái ấy... Khổ cho người bạn của Phan Quang là một cán bộ tỉnh!
Thầy trò nói là đi an dưỡng Sầm Sơn nhưng phải hoàn thành gấp một tài liệu quan trọng. Một sớm Phan Quang thấy người cần vụ vô chợ mua một cái niêu đất. Anh cần vụ cười, nhà an dưỡng ở đây thiếu chi món ngon bổ thế mà ngày nào anh ấy cũng xuýt xoa nhắc đến món cá kho mặn, mình thương quá thì chiều anh ấy một tý... Chợt nhớ, anh Thanh thích món cá biển kho mặn với măng vòi và bỏ thật nhiều ớt... Ông Quang lại thở dài dẫn thêm câu Đại tướng nhân việc ấy: Khi làm cách mạng mình có nghĩ tới những chuyện cao xa, nhưng có khi chỉ ước mong sao bữa cơm về sau có được niêu cá kho mặn...” (Theo Dân Trí).

Nhưng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn kiên quyết với cán bộ làm hại dân, hại nước:  “Ấy là lần Đại tướng chuẩn bị phát biểu tại một Đại hội tỉnh Đảng bộ có một đảng ủy viên địa phương mắc khuyết điểm đã nói nhỏ trước với Phan Quang như thế... Tưởng lên diễn đàn Đại tướng sẽ mềm hơn? Với lại bình sinh Đại tướng, như Phan Quang nhiều lần chứng kiến, ông luôn biết kiềm chế, không để sự buồn vui của mình ảnh hưởng đến quan hệ công tác. Nhưng, không ngờ, trên diễn đàn khuôn mặt sạm đen của ông như sắt lại vì phẫn nộ.

Đảng viên gì? Cán bộ gì? Dân đói, Nhà nước gửi về cho mấy tạ gạo, ba ông chi ủy chia nhau mỗi người mấy chục cân. Thật không bằng... con chó!”.

Vị Đại tướng thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của cán bộ chiến sĩ: “Thời ấy giao thông trắc trở, việc đi lại khó khăn. Lần ấy qua Phà Khuất (Ninh Bình) xe người ùn chờ phà. Một anh bộ đội ba lô lặc lè vẻ mặt cau có đứng bên. Anh Thanh bắt chuyện. Anh bộ đội cho biết đang đóng quân thuộc một đơn vị ở Tây Bắc nay về phép thăm quê trong Hà Tĩnh và phàn nàn tôi muốn quay về đơn vị cho xong chẳng phép thì thôi.

Không biết mình đang nói chuyện với ai, anh bộ đội tiếp tục xổ ra một tràng rằng các anh tính, đơn vị cho 15 ngày phép. Tính cả thời gian đi về. Từ Tây Bắc về đây đã mất một tuần. Về tới nhà hôm trước hôm sau phải đi ngay may ra mới kịp hạn. Đi ngay thì bà con gia đình thắc mắc, ở chơi dăm bữa thì phạm kỷ luật. Vậy thì tôi về làm gì. Biết thế này chẳng xin đi phép nữa.

Anh Thanh vỗ vai anh bộ đội nói mình công tác ở Tổng Cục Chính trị. Cậu cho mình xem giấy phép mình sẽ bày cho cậu cách giải quyết...

Anh bộ đội ngạc nhiên nhưng cũng đưa giấy phép ra. Anh Thanh rút bút ghi luôn Cho nghỉ tại địa phương mươi ngày không tính ngày đi và về. Rồi ký tên Nguyễn Chí Thanh”. 

Lên xe, anh phàn nàn với anh em cùng đi, tất nhiên mình sẽ gọi điện cho đơn vị cậu ấy. Cán bộ mình còn máy móc, nhiều chính sách chế độ còn nhiều khiếm khuyết. Chúng ta phải góp phần chấn chỉnh...”.(Theo Dân Trí).


Sức mạnh hải quân Việt Nam được tăng cường

[Mực Tàu] - Ngày 31/12, tàu vận tải hạng nặng Rolldock Sea chở theo tàu ngầm HQ182 Hà Nội lớp Kilo của Việt Nam đã về đến quân cảng Cam Ranh (Khánh Hòa).
                       

                              
                              Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thị sát tàu ngầm lớp Kilo mang tên
                                 Hà Nội trong chuyến thăm Nga tháng 5/2013. Ảnh: TTXVN

Việt Nam đã đặt mua 6 chiếc tàu ngầm điện - diesel Kilo (dự án 636 Varshavyanka) vào năm 2009, theo hãng tin Interfax (Nga). HQ182 Hà Nội là chiếc đầu tiên Nga giao cho Việt Nam.
Tàu ngầm lớp Kilo nhờ có các đặc tính ưu việt mà nhiều quốc gia trên thế giới rất ưa chuộng và đặt mua loại tàu này cho lực lượng hải quân của mình.
Tàu ngầm Kilo 636 mà Nga đóng cho Việt Nam là tàu ngầm thuộc thế hệ thứ 3, có lượng giãn nước 3.100 tấn, tốc độ 20 hải lý/giờ, lặn sâu đến 300 m, thủy thủ đoàn gồm 52 người.



Tổng cộng có 6 tàu ngầm Kilo 636 được đóng cho Việt Nam tại nhà máy đóng tàu Admiralty ở thành phố St.Petersburg, Nga. Dự kiến Nga sẽ bàn giao xong gói 6 chiếc tàu ngầm vào năm 2016, theo RIA Novosti.
Trong chuyến thăm Nga hồi tháng 5/2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tới thị sát con tàu này và thăm các cán bộ chiến sĩ hải quân Việt Nam đang được phía bạn đào tạo vận hành tàu ngầm tại đây.



Việc sở hữu những tàu ngầm Kilo 636 có nhiều ưu điểm vượt trội sẽ tăng cường sức mạnh đáng kể cho hải quân Việt Nam, góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền trên biển.