Chuyên cung cấp Đèn sưởi nhà tam giá ưu đãi tốt nhất thị trường.

Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

KHI ĐẠI GIA MANG TÀU RA BIỂN ĐÁNH CÁ

[Me Lo] - Trong mấy ngày gần đây, trên các trang mạng xã hội xôn xao thông tin rằng vị đại gia Phạm Ngọc Lâm – Chủ tịch HĐQT CTCP Đức Khải - công bố với báo giới đầu năm 2015, 100 con tàu đánh cá có công suất từ 500 đến 1.500 mã lực sản xuất tại các nước hàng đầu về công nghiệp đóng tàu và đánh bắt như Hàn Quốc, Nhật, Úc cùng 2 máy bay trực thăng, 2 ụ nổi với sức chứa 5.000 tấn/ụ… do Công ty Đức Khải mua về sẽ chính thức tiến ra ngư trường, sát cánh cùng ngư dân khai thác thủy hải sản trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam.


Đây là 45con tàu đầu tiên (trong số 100 tàu) được Công ty Đức Khải mua từ Hàn Quốc sẽ về Việt Nam vào cuối tháng 8/2014

Mặc dù thông tin này hoàn toàn chưa thể khẳng 100% là chính xác về tính khả thi của dự án của Công ty Đức Khải. Tuy nhiên, khi biết được thông tin này thì rất nhiều ngư dân Việt Nam nói riêng và người dân Việt Nam nói chung rất vui. Lần đầu tiên trong lịch sử có một doanh nghiệp đầu tư với số tiền khổng lồ cho ngành khai thác hải sản.  

Xét ở nhiều khía cạnh thì mới thấy hết được những vấn đề đặt ra của việc đầu tư cho ngành khai thác hải sản theo hướng hiện đại này. Đặc biệt là phải đặt vấn đề này trong bối cảnh hiện nay khi Trung Quốc đang ngày càng hung hăng, ngỗ ngược hơn trên Biển Đông. Tất nhiên rằng, việc đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc khai thác hải sản sẽ gặp rất nhiều khó khăn cả khách quan và chủ quan. Thế nhưng, chúng ta phải nhìn nhận một điều là khi đất nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn, thì việc một doanh nghiệp đi đầu cho vấn đề khai thác hải sản là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. 

Thực tiễn cho thấy rằng, Nhà nước ta trong thời gian qua chưa thực sự quan tâm đến vấn đề khai thác hải sản. Minh chứng rõ ràng rằng, khi tàu Trung Quốc vào thì không chỉ tàu đánh cá của ngư dân mà cả tàu của lực lược bảo vệ chủ quyền trên biển cũng là quá nhỏ so với Trung Quốc. Việc một doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư tàu cá, phương tiện hỗ trợ cho hoạt động khai thác hải sản là một bước đột phá mà Đảng và Nhà nước Việt Nam cần phải quan tâm thỏa đáng. Thậm chí nếu cần thiết để tào điều kiện thuận lợ cho vấn đề bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông thì Nhà nước cần hỗ trợ cho doanh nghiệp để dự án này đi vào hoạt động. Chúng ta chưa nói đến vấn đề được hay mất của doanh nghiệp trong việc đầu tư cho dự án này, nhưng có một điều mà chúng ta phải nhận ra là chủ quyền của đất nước chúng ta tại Biển Đông đang bị xâm hại nghiêm trọng. Do vậy, bất cú hoàn cảnh nào thì cũng phải cần nhận thức rõ một điều rằng an ninh của đất nước nên đặt hàng đầu. 

Có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề mà vị đứng đầu của Công ty Đức Khải tuyên bố. Thế nhưng dù khó khăn thế nào nếu dụ án có khả năng thực hiện thì nhất định quyết tâm thực hiện cho kì được. Chúng ta phải hiểu rằng, cái đường 9 đoạn hay 10 đoàn gì đó của Trung Quốc là phi pháp, không có thật. Quyền chủ quyền tại Biển Đông của Việt Nam được Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 quy định rõ. Chúng ta đầu tư khai thác hải sản trên vùng biển thuộc chủ quyền của đất nước chúng ta nên chúng ta không sợ bất cứ thế lực hắc ám nào.

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

“HỘI NHÀ BÁO ĐỘC LẬP”- TRÒ HỀ SAU “MẠNG LƯỚI BLOGGER VN" VÀ "VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP”

[Lục Mạch] - Ngày 4/7/2014 thấy trên “DậnLàmBừa” chơi cái tít “Hội Nhà báo độc lập ra đời với số lượng thành viên hùng hậu”. Theo đó, tên đầy đủ của nhóm này là Hội Nhà báo độc lập Việt Nam (tiếng Anh: The Independent Journalists Association of Vietnam – IJAVN) và tuyên bố thành lập tại Sài Gòn với số lượng 42 thành viên, bao gồm những cây viết cả trong lẫn ngoài nước. 

Trong bài viết đề cập đến một cuộc phỏng vấn với Truyền thông Chúa Cứu Thế của Phạm Chí Dũng - người được các thành viên thống nhất bầu làm Chủ tịch Hội đã cho cư dân mạng thấy được sự hoang tưởng của một tay bán nhân đức cho ngoại quốc: “Chúng tôi muốn so sánh với tờ Bangkok Post. Cố gắng trong 10 năm sắp tới trang mạng của Hội phải so sánh được với Bangkok Post, hoặc hơn nữa như tờ Straits Times của Singapore, hoặc phải nghĩ đến những viễn cảnh xa vời như Le Monde của Pháp”. Thật nực cười cho những kẻ dở người, ít ra các báo mà người này so sánh nó còn có tư cách pháp nhân, có văn phòng đại diện ở nhiều nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Sự tồn tại của các báo đó được đảm bảo ở chỗ ít ra nó cũng phản ánh phần nào đó những thông tin là khách quan, người đọc nhìn vào còn có hứng.

Đối với “Hội nhà báo độc lập” nhìn điểm qua toàn mấy thằng phản động, chuyên bịa tin, đạo tin, thế là làm sao có được tờ báo chân chính, báo như vậy thì là báo gì? Liệu có tồn tại nổi không mà đòi phát triển. Nhóm này khiến tôi lại nghĩ ngay đến “Mạng lưới blogger Việt Nam” “Văn đoàn độc lập”. “Mạng lưới Blogger Việt Nam” năm 2013 tuyên bố ra đời số thành viên lên đến 104 người, thế rồi cũng “chết” hết, cái chết ở đây là cái chết khi người ta đối chiếu danh sách 104 với số người thực của Mạng lưới này mỗi lần đi quy tụ thì thấy thật kệch cỡm (tối đa 15 trên 104), đấy là chưa kể 15 người đó có cả mấy ông Tây đi qua bị lôi vào chém gió. Nghĩ cho cùng mấy thằng đó cũng ngu đã chót chém thì chém mạnh vào chơi hẳn danh sách 401 người cho hoành tráng xem nào, chứng kiến những lần off-line mà thấy thương lắm, chỉ có mấy thằng bám đít ngoại bang đang câu “Viu” để kiếm tiền nhơ bẩn. Chưa hết Shock về MLBLVN thì “Văn đoàn độc lập” lại cho ra một danh sách 62 thành viên, trong đó có cả người đã chết cũng ký vào danh sách thành lập (Nguyễn Quốc Thái). Phải chăng Diêm vương đã gạch tên ông Thái khỏi danh sách tử để về trần gian ký tên, hay đó lại là một chiêu câu “Viu” nữa theo kiểu cứ “ghi bừa mấy chục cái tên vào cho oai, làm gì có thằng nào biết”

Bây giờ đến “Hội nhà báo độc lập”, điểm đi điểm lại vẫn thấy mấy thằng cũng nằm trong danh sách của MLBLVN và Văn đoàn độc lập. Thế mới biết lại một trò hề nữa được phơi ra thiên hạ. 

Cũng phải thôi!

Tháng 7 là tháng thảnh thơi

Thiếu tiền nghỉ mát, ta chơi trò này

Muốn tiền ngoại quốc về đây

Ta làm cái biển đến trăm ngàn đồng

Treo lên cố đứng đông đông

Rồi ta chụp ảnh lấy lòng ngoại bang.









TRUNG QUỐC: TÌNH HỮU NGHỊ VÀ SỰ THÂM ĐỘC, XẢO QUYỆT!

[Mực tàu]
Tình hữu nghị…

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc có được là do sự vun đắp của Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam và Mao Trạch Đông của Trung Quốc. Mối quan hệ này đặc biệt thăng hoa trong thời kỳ nhân dân Việt Nam kháng chiến giành độc lập và thống nhất Tổ quốc. Nhân dân Việt Nam luôn ghi nhận và biết ơn Trung Quốc đã nhường cơm, xẻ áo, giúp đỡ cho nhân dân Việt Nam trong những năm tháng khó khăn ác liệt của cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc.

Nói không hề quá rằng, nếu không có sự giúp đỡ của Trung Quốc, nhân dân Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong công cuộc kháng chiến giành độc lập cho tổ quốc. Trung Quốc không chỉ giúp chúng ta về vũ khí, đồ dùng, lương thực mà còn giúp chúng ta trong đào tạo, huấn luyện cán bộ. Trong những năm tháng khó khăn, ác liệt đó, tình cảm giữa hai dân tộc Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là tình đồng chí mà còn là tình “anh, em”!

Và sự thâm độc, xảo quyệt

Nhưng chúng ta cũng cần ghi nhớ rằng, chính những người lãnh đạo Trung Quốc cũng có mục đích dùng Việt Nam làm lá chắn để Mỹ và phương Tây không áp sát được biên giới Trung Quốc, Trung Quốc đã có âm mưu dùng Việt Nam làm con bài để chống Mỹ.

Năm 1972, Mao Trạch Đông đã có cuộc gặp Rchard Nixon. Chính sau cuộc gặp này, nhà nước Cộng hòa Trung Hoa mới chính thức được Mỹ công nhận, mặc dù Cộng hòa Trung Hòa ra đời từ năm 1949.  Đổi lại sự việc này nhân dân Việt Nam phải hứng chịu những gì thì ai cũng đã biết.  Sau cuộc gặp này, Mỹ đã thực hiện phong tỏa toàn bộ đường biển của Việt Nam và ném bom ác liệt nhằm đưa Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá bằng máy bay B52. Không ai khác, chính Trung Quốc đã “giúp” Việt Nam bằng cách bật đèn xanh cho Mỹ không kích miền Bắc Việt Nam bằng B52 năm 1972, nhằm cho Mỹ lấy lại hình ảnh của mình. Nhưng Mỹ và Trung Quốc đều không ngờ rằng, quân đội Việt Nam đã không hề bị khuất phục, Việt Nam đã làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” đè bẹp âm mưu thâm độc của đó.

Năm 1974, Trung Quốc và Mỹ lại một lần nữa bắt tay với nhau phá hoại Việt Nam. Lúc này Mỹ rất cần một chiến thắng để rút lui trong danh dự, Trung Quốc lại không muốn Việt Nam sớm dành độc lập vì muốn âm mưu thôn tính Việt Nam. Với sự bật đèn xanh của Mỹ, Trung Quốc đã cất quân xâm lược, đánh chiếm nốt phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Thời điểm đó quần đảo Hoàng Sa đang do chính phủ Việt Nam Cộng hòa quản lý và hoàn toàn có đủ sức mạnh để giữ đảo. Nhưng Mỹ đã “cấm” chính phủ bù nhìn Việt Nam cộng hòa không được điều tàu và máy bay ra ứng cứu. Chính vì có sự bật đèn xanh của Mỹ nên Trung Quốc mới có thể dễ dàng chiếm quần đảo Hoàng Sa như vậy. Đổi lại, Trung Quốc phải giúp Mỹ giành chiến thắng trong chiến trường miền Nam. Để giúp đỡ Mỹ, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam nhiều tấn đạn dược thối, không thể sử dụng được. Rất may, quân đội nhân dân Việt Nam đã kịp thời phát hiện ra âm mưu thâm độc này của Trung Quốc để kịp thời loại bỏ những gói viện trợ “dởm” này.

Năm 1975 Việt Nam thống nhất, diễn biến này xảy ra quá nhanh chóng và ngoài ý muốn của Trung Quốc. Một lần nữa, khi không ép buộc được Việt Nam cùng đứng lên chống Liên Xô, Trung Quốc đã tìm mọi cách chia rẽ dân tộc Việt Nam và Campuchia. Trung Quốc đã kích động hằn thù dân tộc, đứng đằng sau tiếp tay cho Khơ Me Đỏ, gây chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam với ta suốt từ năm 1975 đến 1979 giết hại hàng vạn người dân vô tội.

Đỉnh cao của của sự xảo quyệt là vào tháng 3/1979 lãnh đạo Trung Quốc đã xua 60 vạn quân tấn công toàn bộ tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, giết hại hàng chục vạn dân thường vô tội mà Đặng Tiểu Bình đã láo xược nói rằng “dạy cho Việt Nam một bài học”. Tất nhiên, cũng như mọi lần khác, mặc dù mạnh mẽ nhưng quân Trung Quốc vẫn chỉ là một lũ ô hợp, bị quân dân ta đánh cho tan tác trong vòng một tháng. Mặc dù bị thất bại thảm hại phải rút về nước nhưng Trung Quốc vẫn thường xuyên nã pháo qua biên giới sang Việt Nam cho mãi đến năm 1989.

Năm 1988, nhân cơ hội Việt Nam đang trong quá trình khắc phục hậu quả của chiến tranh. Trung Quốc lại cất quân xâm lược, đánh úp 6 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, giết hại nhiều chiến sĩ quân đội ta.

Suốt từ đó đến nay, cậy mình là nước lớn Trung Quốc luôn tỏ rõ ý đồ tham lam độc chiếm Biển Đông.

Trung Quốc ngang nhiên ban hành nhiều lệnh cấm đánh bắt cá phi lý trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Các tàu Trung Quốc gỉa danh tàu cá liên tục xua đuổi đâm va, đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân, bắt giữ trái phép, đánh đập ngư dân Việt Nam, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu ngư dân Việt Nam.

Họ đã điều tàu hải giám, tàu cá ngụy trang ngang nhiên cắt cáp và quấy nhiễu các tàu thăm dò Việt Nam ngay trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta.

Đỉnh điểm của sự việc này là vào đầu tháng 5/ 2014, Trung Quốc đã ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trung Quốc còn điều nhiều tàu trong đó có cả tàu quân sự đến khiêu khích, phá hoại tàu chấp pháp của ta.
 
Giàn khoan HD - 981 của Trung Quốc trong vùng biển của Việt Nam
Về kinh tế Trung Quốc thường xuyên khuyến khích thương nhân thực hiện các hành vi phá hoại nền kinh tế Việt Nam bằng những thủ đoạn vô cùng nham hiểm và xảo quyệt như: thu mua đỉa, thu mua móng trâu, mua lá điều khô, mua lá khoai lang non, mua nụ Thanh Long…

Trung Quốc đã từng giúp đỡ Việt Nam, điều đó Việt Nam ghi nhận. Nhưng Trung Quốc cũng phải cám ơn Việt Nam. Vì có cuộc chiến tranh Việt Nam mà Trung Quốc mới có thể đạt được những thứ Trung Quốc cần.  Sự giúp đỡ của Trung Quốc dành cho Việt Nam chưa bao giờ là sự giúp đỡ đơn thuần mà kèm theo đó luôn là những âm mưu vô cùng thâm độc.


Như lời của thánh nhân đã nói “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, Biển Đông không phải là thứ mà Trung Quốc cứ muốn là được. Dù âm mưu của Trung Quốc có thâm độc, xảo quyệt đến đâu nhân dân Việt Nam cũng không bao giờ chùn bước vì thắng lợi luôn thuộc về chính nghĩa và nhân dân Việt Nam luôn có chính nghĩa trong tay!

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

ĐẾN BAO GIỜ "EM" MỚI HẾT ĐAU?


[Me Lo] - Có lẽ rằng, độc giả không còn thấy xa lạ chuyện một con đường đang đi chiều tối nay, bỗng dưng sáng hôm sau đã bị che chắn bằng barrier để đào đào, bới bới. 
 
Nếu ai đó không hiểu chuyện thậm chí lại tò mò rằng hình như người ta đang đào để tìm kiếm cái gì đó, bởi thi thoảng trên cùng một con đường lại thấy anh em công nhân từ các miền quê khắp mọi miền Tổ quốc làm thuê ở đó. Nói là công nhân cho oai nhưng thực chất họ là những người lao động nghèo từ các vùng quê lên mưu sinh. Các ông chủ chọn họ không phải vì cái đức tính cần cù, “một nắng hai sương” của họ mà là vì giá thuê họ rất bèo. Chính điều này, sẽ đem lại khoản lợi nhuận nào đó. 

Cứ thi thoảng lại thấy họ đào đào, bới bới, dường như họ đang thay ai đang tìm kiếm cái gì đó. Quả đúng là họ đang tìm kiếm cái gì đó. Chứ không đâu phải dỗi hơi, nhàn xác mà họ thích làm cái chuyện ấy”.

Chỉ có các con đường là “em” chịu nỗi đau nhiều nhất, nỗi đau đó cứ âm ỉ, không nguôi. Giá như “các em” đau một lầm rồi thôi, đau một lần để sau đó cho người ta êm du thì “em” cũng thích thú. Đằng này, thi thoảng “em” lại đau. Để đến nỗi nhìn “em” dăm bữa nửa tháng lại bị người ta đào, người ta chọc ngoáy. Chao ôi! Nghĩ mà xót xa đau đớn tột cùng.

Nhìn “em” đau đớn bị người ta đào, nên các nhà Lãnh đạo cũng không yên ổn. Bởi nó đang làm hao mòn ngân sách quốc gia. Thà làm một lần cho xong, cho đẹp và chắc chắn có tốn hơn tiền còn hơn là thỉnh thoảng lại đào đào, bới bới. Nó không những làm ảnh hưởng đến mĩ quan đo thì mà gây rất nhiều ảnh hưởng đến người dân.

Sao “em” bị đau? Câu trả lời này phải để các nhà điều tra, các nhà lãnh đạo tìm hiểu. Nhưng trước mắt, có thể thấy nguyên nhân chính để “em” hay bị đào là do chất lượng của “em” sau khi người ta làm “em” là rất kém. Nhìn "em" đau, anh xót xa vô cùng!


Hàng ngày “em” bị người ta đào

Hàng ngày, “em” chịu biết bao nhiêu sức nén nặng nề mà họ lại trang bị cho em những thứ mỏng manh, dễ vỡ. Đơn cử như “em” vỉa hè đoạn Kim Liên - Ô Chợ Dừa - Hoàng Cầu tồn tại nhiều bất cập. Cụ thể, phần bó vỉa dọc tuyến phố nhiều đoạn thiết kế cao so với mặt đường, không hạ cốt mở lối cho người dân đi lại, dắt xe lên hè, buộc người dân phải đặt cầu dẫm bằng sắt, bê tông. Phần lát hè sử dụng gạch dễ vỡ, chất lượng thi công kém, mau hỏng, gây lãng phí, tốn kém cho kinh phí, ngân sách của thành phố.

Có rất nhiều các công trình thi công các tuyến phố trong nội thành rất kém chất lượng mà lâu nay có không có ai nhắc đến. Người dân họ cũng muốn lên tiếng nhưng khi họ lên tiếng thì rồi đâu lại đóng đấy. Trong giai đoạn mà Nhà nước ta hiện nay đang coi trọng vẫn đề giám sát, phản biện xã hội là lúc mà người dân thể hiện vai trò làm chủ của mình. Các cơ quan chức năng cần xây dựng một cơ chế để những phản ánh của nhân dân được tiếp thu nhanh nhất, hiệu quả nhất. Người đứng đầu cơ quan cần có tránh nhiệm cao hơn, làm việc vì nhân dân, đất nước nhiều hơn. Chỉ có khi đó, có lẽ “các em mới hết đau”.


Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

BỔ NHIỆM ÔNG NGUYỄN MẠNH HÙNG LÀM GIÁM ĐỐC BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐƯỜNG SẮT

[Me Lo] - Cục Đường sắt Việt Nam vừa ra quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Mạnh Hùng - Phó Tổng Giám đốc Ban quản lý Dự án Thăng Long, Bộ Giao thông vận tải - làm Giám đốc Ban quản lý các dự án đường sắt thay ông Đoàn Tăng Ong. 


Ông Nguyễn Mạnh Hùng (người đứng)


Mặc dù đây là một quyết định nhanh chóng của Cục Đường sắt Việt Nam trong việc thay thế và bổ nhiệm nhân sự cấp cao của đơn vị trực thuộc.Tuy nhiên, sự thay đổi này là hoàn toàn có cơ sở và căn cứ. Đó là sự yếu kém về năng lực công tác, tình hình công việc và sự vô trách nhiệm của lãnh đạo Ban quản lý này tại Ban quản lý các dự án đường sắt.

Thực tế cho thấy, có thời gian Ban quản lý dự án này có sự đùn đẩy trách nhiệm. Theo như Báo Dân Trí có phản ánh thì: “khi báo cáo tình hình công việc bị tồn đọng, lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải đặt câu hỏi tại sao làm Giám đốc mà không đưa ra các quyết định để sớm giải quyết công việc thì người đứng đầu Ban quản lý Dự án đường sắt - Ông Đoàn Tăng Ong - đáp lại rằng ông không muốn làm Giám đốc nhưng bị đưa lên thì phải làm thôi!?”.

Với câu trả lời như vậy thì sự thay thế để có một Ban quản lý mới là cần thiết. Những người đứng đầu đơn vị để thực thi những nhiệm vụ liên quan đến lợi ích nhân dân, lợi ích quốc gia lại trả lời một cách thiếu trách nhiệm như vậy thì cần phải thay thế. Tuy nhiên, cần phải tìm ra những nguyên nhân của việc đó. Biết đâu được khi tìm ra nguyên nhân đó thì xã hội ta lại bớt thêm đi được một “ung nhọt” ác tính.